Thứ Hai, 9 tháng 5, 2016

Du Lịch Hàn Quốc Thăm Các Ngôi Nhà Truyền Thống Cổ Xưa

Hanok là một ngôi nhà truyền thống cổ xưa của người Hàn Quốc. Đây là ngôi nhà có kiến trúc phù hợp nhất với đặc điểm khí hậu của ddaaaij Hàn Dân Quốc. Hanok có thể được phân loại tuỳ thuộc vào vật liệu xây dựng như: nhà mái ngói, nhà tranh, nhà gỗ… Du cho ngôi ngà được dùng với loại nguyên vật liệu nào thì Hanok vẫn là ngôi nhà cổ xưa của người nước này, và cực kỳ thân thiện với thiên nhiên. Ngày nay, du khách vẫn có thể nhìn thấy những ngôi nhà Hanok khi đi du lịch Hàn Quốc.
Hanok, kiểu nhà truyền thống của người Hàn Quốc, gần như không thay đổi từ thời Tam Quốc cho tới cuối Triều đại Joseon (1392-1910).
Du lịch Hàn Quốc thăm các ngôi nhà truyền thống cổ xưa - Ảnh 1
Hanok - Ngôi nhà truyền thống của Hàn Quốc
Ngày nay, từ Ondol được dùng để chỉ tất cả những hệ thống sưởi ấm dưới sàn được thiết kế dựa theo cách ăn uống và ngủ nghỉ truyền thống trên mặt sàn.
Ondol, hệ thống lò sưởi dưới sàn nhà độc đáo của Hàn Quốc, đầu tiên được sử dụng ở miền bắc. Khói và sức nóng từ các bếp lò nằm thấp phía dưới được dẫn qua các ống xây dưới nền nhà. Thời tiết vùng phương nam ấm áp hơn, nên ondol thường được dùng với sàn nhà bằng gỗ. Vật liệu chính để làm kiểu nhà truyền thống này là đất sét và gỗ. Giwa, mái ngói có rãnh lượn sóng màu đen, được làm từ đất, thường là đất sét đỏ. Ngày nay, dinh thự của Tổng thống Hàn Quốc được gọi là Cheong Wa Dae, hay Nhà Xanh, chính là vì nó có mái ngói màu xanh.
Khi xây Hanok, người ta không hề dùng đinh mà chỉ lắp ráp các mộng vào với nhau. Nhà của tầng lớp thượng lưu gồm một vài công trình tách rời, một công trình làm chỗ ở cho phụ nữ và trẻ em, một công trình dành riêng cho đàn ông trong gia đình và khách khứa, và một công trình khác cho người hầu – tất cả đều được bao quanh bằng tường. Gian thờ tổ tiên gia đình được xây ở sau nhà. Đôi khi cũng có một hồ sen ở phía trước nhà, bên ngoài bức tường.
Du lịch Hàn Quốc thăm các ngôi nhà truyền thống cổ xưa - Ảnh 2
Nét cổ xưa của ngôi nhà Hanok
Hình dáng các ngôi nhà có sự khác biệt khi đi từ phương bắc lạnh giá về phương nam ấm áp hơn. Ở phương nam, hình dáng nhà thường đơn giản, có một tầng hình chữ nhật, với nhà bếp hoặc một căn phòng nằm ở bên cạnh, tạo thành hình chữ L. Về sau, nhà Hanok có hình chữ U hoặc hình vuông, quây quanh một khoảng sân nằm ở chính giữa.
Từ cuối thập niên 1960, kiểu nhà cửa ở Hàn Quốc bắt đầu thay đổi nhanh chóng khi các tòa nhà căn hộ kiểu phương Tây bắt đầu được xây dựng. Những khu căn hộ cao tầng mọc lên như nấm trên khắp đất nước từ thập niên 1970, nhưng hệ thống sưởi ondol vẫn được ưa chuộng, với ống dẫn nước nóng thay thế cho ống dẫn hơi dưới sàn nhà.

Thứ Tư, 13 tháng 4, 2016

Bảo tàng & Thư viện Kim Koo ở Hàn Quốc có gì đặc biệt?

Giới thiệu

Kim cổ bảo tàng và thư viện được xây dựng trong Yongsan-gu, Seoul để kỷ niệm Baekbeom Kim Koo là một nhà hoạt động độc lập nổi tiếng. Ủy ban sự thật vụ ám sát Baekbeom Kimkoo đề xuất ý tưởng xây dựng memorial hall vào năm 1996. Các Hiệp hội Dịch vụ kỷ niệm cho Patriot Kim Koo được thành lập vào năm 1998, và họ bắt đầu tài trợ cho việc xây dựng Baekbeom Memorial Hall. Một buổi lễ động thổ đã được tổ chức ngày 26 tháng 6 năm 2000 và nó mở cửa vào ngày 22 tháng 10 năm 2002. Trong tháng 12, năm 2008, nó được đổi tên từ Baekbeom Memorial Hall để Baekbeom Kim Koo Memorial Hall. Hội trường bao gồm hai tầng, trưng bày di tích liên quan đến chuỗi toàn bộ cuộc sống của mình. Một bức tượng của Kim Koo ngồi này tọa lạc tại không gian trung tâm của hội trường đầu tiên.

Kích thước cấu trúc
Plottage: 18, 364.6㎡
Cơ cấu diện tích: 9, 683.0㎡
Triển lãm 1F: 1, 048.3㎡
Triển lãm 2F: 687.2㎡

Thông tin ngành công nghiệp
Chương trình dựa trên kinh nghiệm, lời bình luận của triển lãm, chương trình đặc biệt

Thông tin triển lãm
* Triển lãm 1F
Central Hall, Kim Koo tượng, biểu tượng Hall, thứ tự, Kim Koo thời thơ ấu, hoạt động với trào nông dân quân đội và công bình quân đoàn, các đạo luật yêu nước tại Chihapo Port, các hoạt động yêu nước

* Triển lãm 2F
Hoạt động với KPG tôi (1919 ~ 1932), hoạt động với KPG II (1932 ~ năm 1939), hoạt động với KPG III (năm 1939 ~ năm 1945), phong trào quốc gia thống nhất, Kim Koo cái chết và tang lễ

* Đặc biệt Exhibition Hall

Tuyển sinh / học phí tham gia
Miễn phí

Tiện nghi đậu xe
Có sẵn

Lệ phí đậu xe
Xe cỡ nhỏ: 300 won cho mỗi 10 phút
Xe có kích thước lớn: 600 won cho mỗi 10 phút
Xem thông tin. Du lich Han Quoc
Hướng dẫn tour: Tour Han Quoc
Nguồn: http://dulichhanquoc88.blogspot.com/

Thứ Ba, 29 tháng 3, 2016

Bảo tàng dân gian quốc gia Hàn Quốc

Bảo tàng dân gian quốc gia Hàn Quốc nằm ​​trong khuôn viên của Cung điện Gyeongbokgung ở Jongno-gu, Seoul và sử dụng các bản sao của các đối tượng lịch sử để minh họa lịch sử của đời sống truyền thống của người dân Hàn Quốc. Đây cũng là một nơi không thể thiếu trong chuyến Du Lịch Hàn Quốc.
Bảo tàng dân gian quốc gia Hàn Quốc
Bảo tàng được thành lập ngày 08 tháng mười một năm 1945 của Chính phủ Mỹ và mở cửa vào ngày 25 tháng tư 1946 tại Memorial Hall Quản lý thành phố. Khi bảo tàng sáp nhập với Bảo tàng Quốc gia Hàn Quốc , bộ sưu tập của 4.555 hiện vật đã được chuyển đến của cơ quan này Mt Namsan. Năm 1975, khi Bảo tàng Quốc gia chuyển lên căn cứ của Gyeongbokgung Palace , nó di chuyển cùng với nó vào Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại Building. Năm 1993, nó mở cửa vào trang web hiện tại của nó, đó là nơi trước đây là Bảo tàng Quốc gia Hàn Quốc. Thiết kế của tòa nhà được dựa trên các tòa nhà lịch sử khác nhau trên khắp Hàn Quốc.
Bảo tàng dân gian quốc gia Hàn Quốc
Bảo tàng có ba phòng triển lãm chính, với hơn 98.000 hiện vật: Lịch sử của dân Hàn Quốc đặc trưng vật liệu của cuộc sống hàng ngày tại Hàn Quốc từ thời tiền sử đến cuối của triều đại Joseon vào năm 1910; Way of Life Hàn Quốc, trong đó minh dân Hàn Quốc trong thời cổ đại; và Vòng đời của người Hàn Quốc, trong đó mô tả các rễ sâu của Nho giáo trong văn hóa Hàn Quốc và cách thức hệ tư tưởng này đã dẫn đến hầu hết hải của văn hóa.
Bảo tàng cũng có cuộc triển lãm ngoài trời, chẳng hạn như bản sao của bài viết tinh thần nơi người dân sử dụng để cầu nguyện, các đống đá để thờ phượng, nhà máy nghiền, nơi tạm trú có trong gạo và hố chậu cho kimchi.

Tokyo - Thủ đô Nhật Bản

Tokyo là thủ đô và một trong 47 tỉnh của Nhật Bản, thủ đô Tōkyō nằm ở phía đông của đảo chính Honshū. Trong tiếng Nhật, Tokyo có nghĩa là "Kinh đô ở phía đông". Không chỉ là một đô thị riêng lẻ mà ngày nay Tokyo là trung tâm của Vùng thủ đô Tōkyō. Trung tâm hành chính của Tokyo đặt ở khu Shinjuku. Vùng đô thị Tokyo là vùng đô thị đông dân nhất thế giới với dân số từ 35-39 triệu người và là vùng đô thị có GDP cao nhất thế giới với GDP 1.479 tỷ đô la Mỹ theo sức mua tương đương vào năm 2008.
Tokyo - Thủ đô Nhật Bản
Tokyo được Saskia Sassen mô tả là một trong 3 "trung tâm chỉ huy" của nền kinh tế thế giới, cùng với Luân Đôn và Thành phố New York Thành phố này được xem là một alpha+ thành phố thế giới, theo xếp hạng của GaWC năm 2008 inventory. Tokyo là nơi đặt có cơ quan đầu não của Chính phủ Nhật Bản, Hoàng cung Nhật Bản và là nơi cư ngụ của Hoàng gia Nhật Bản.
Phần lục địa của Tokyo nằm ở phía tây bắc của vịnh Tokyo và ước tính có chiều dài 90 km từ đông tới tây và 25 km từ bắc tới nam. Tỉnh Chiba tiếp giáp phía đông, Yamanashi phía tây, Kanagawa phía nam và Saitama phía bắc. Phần nằm trong lục địa của Tokyo được phân chia thành những khu đặc biệt (chiếm phần phía đông) và vùng Tama chạy dọc về hướng tây. Danh giới hành chính của vùng đại Tokyo còn bao gồm hai chuỗi hòn đảo thuộc Thái Bình Dương chạy thẳng về phía nam: Quần đảo Izu và quần đảo Ogasawara, kéo dài hơn 1000 km so với vùng đất liền Nhật Bản.
Tokyo - Thủ đô Nhật Bản
Khu đặc biệt (tokubetsu-ku) của Tokyo bao gồm một vùng từng hình thành nên thành phố Tokyo. Vào ngày 1 tháng 7 năm 1943, thành phố Tokyo được sáp nhập vào tỉnh Tokyo (東京府, Tōkyō-fu) và thành lập nên "tỉnh thủ đô". Sau vụ sáp nhập, không giống các khu thành phố khác ở Nhật Bản, những khu này không thuộc bất cứ một thành phố bao bọc lớn hơn nào. Mỗi khu là một đô thị tự trị với thị trưởng được bầu ra bởi chính khu đó và có hội đồng giống các thành phố khác ở Nhật. Điểm khác biệt của các khu này khác biệt so với các thành phố khác là mối quan hệ hành chính đặc biệt với chính quyền tỉnh. Vài chức năng đô thị nhất định, chẳng hạn như cung cấp nước, hệ thống cống rãnh, cứu hỏa được điều hành bởi chính quyền thủ đô Tokyo. Để trả cho những chi phí hành chính phát sinh, tỉnh thu thuế đô thị, thuế này sẽ thường được thu bởi thành phố. Hiện nay Tokyo có 23 khu đặc biệt gồm :
  • Adachi
  • Arakawa
  • Bunkyô
  • Chiyoda
  • Chūō
  • Edogawa
  • Itabashi
  • Katsushika
  • Kita
  • Kōtō
  • Meguro
  • Minato
  • Nakano
  • Nerima
  • Ōta
  • Setagaya
  • Shibuya
  • Shinagawa
  • Shinjuku
  • Suginami
  • Sumida
  • Taitô
  • Toshima
Tokyo có vô số hòn đảo ngoài khơi, kéo dài xa tới 1850 km so với trung tâm Tokyo. Vì khoảng cách xa của những hòn đảo này so với trụ sở chính quyền thành phố ở Shibuya nên những văn phòng chính quyền địa phương quản lí những hòn đảo này.
Có một vài công viên quốc gia thuộc Tokyo bao gồm :
  • Vườn quốc gia Meiji no Mori Takao Quasi
  • Vườn quốc gia Ogasawara
  • Vườn Ueno
Dân số
Tính đến tháng 10 năm 2007, ước tính có khoảng 12.79 triệu người sống tại Tokyo với 8.653 triệu người sống tại 23 khu đặc biệt. Vào ban ngày, dân số tăng thêm 2.5 triệu người, gồm những người đi làm và học sinh lưu chuyển từ các vùng lân cận vào trung tâm. Tác động này có thể thấy rõ nhất ở 3 khu trung tâm là Chiyoda, Chūō và Minato, những khu có dân số là 326,000 vào ban đêm và 2.4 triệu người vào ban ngày theo điều tra dân số năm 2005. Toàn bộ tỉnh Tokyo có 12,790,000 cư dân vào tháng 10 năm 2007 (8,653,000 trong 23 khu), với số tăng 3 triệu người vào ban ngày. Dân số Tokyo đang tiếp tục tăng do người dân đang có xu hướng quay trở lại sống tại các khu trung tâm khi giá đất ngày càng giảm nhẹ. Tính đến năm 2005, những người có quốc tịch nước ngoài sống tại Tokyo theo điều tra gồm: người Trung Quốc (123,661), người Hàn Quốc (106,697), người Bắc Triều Tiên (62,000), người Phillipine (31,077), người Mỹ (18,848), người Anh (7,696), người Brazil (5,300) và người Pháp (3,000).
Khí Hậu
Tokyo nằm ở vành đai khí hậu cận nhiệt đới ẩm , mùa hè ẩm ướt và mùa đông dịu mát với những đợt rét. Lượng mưa bình quân là 1,380mm. Lượng tuyết ít nhưng vẫn thường xuyên diễn ra . Tokyo là một ví dụ điển hình cho loại khí hậu nhiệt đô thị đảo, dân số đông góp một phần quan trọng đến khí hậu thành phố.. Tokyo được xem là "một ví dụ thuyết phục cho mối quan hệ giữa sự tăng trưởng đô thị và khí hậu". Tokyo cũng thường có bão hàng năm, nhưng phần lớn là bão yếu.
Kinh tế
Không chỉ là trung tâm hành chính của Nhật Bản mà Tokyo còn là trung tâm kinh tế của thế giới.
Là một trong 3 trung tâm kinh tế toàn cầu cùng với New York và Luân Đôn, theo điều tra của PricewaterhouseCoopers, khu đại đô thị Tokyo (35.2 triệu người) có tổng GDP theo sức mua tương đương là 1.191 tỷ USD năm 2005, biến nó trở thành vùng đô thị có GDP lớn nhất toàn cầu. Tính đến năm 2008, có 47 công ty trong danh sách Global 500 có trụ sở đặt tại Tokyo, gấp đôi so với Paris.
Tokyo - Thủ đô Nhật Bản
Tokyo là trung tâm tài chính quốc tế, là nơi đặt trụ sở chính của một vài ngân hàng đầu tư và công ty bảo hiểm lớn nhất thế giới, đóng vai trò đầu mối của Nhật về giao thông, công nghiệp xuất bản và phát thanh truyền hình. Trong phát triển mang tính tập trung của nền kinh tế Nhật Bản theo sau cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhiều công ty lớn di chuyển tổng hành dinh của họ từ các thành phố như Osaka (thủ đô thương mại lịch sử của Nhật) đến Tokyo, trong cố gắng lợi dụng sự thâm nhập dễ dàng hơn vào hệ thống nhà nước. Xu hướng này đã bắt đầu chậm dần đi do sự bùng nổ dân số ở Tokyo và mức sống đắt đỏ ở đó.
Văn Hóa
Tokyo có rất nhiều bảo tàng. Riêng tại công viên Ueno đã có 4 bảo tàng quốc gia gồm: Bảo tàng Quốc gia Tokyo, bảo tàng lớn nhất của Nhật Bản và chuyên về nghệ thuật truyền thống Nhật Bản; Bảo tàng Quốc gia nghệ thuật phương Tây; Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại Quốc gia Tokyo, với những bộ sưu tập về nghệ thuật Nhật Bản cũng như hơn 40,000 bộ phim của Nhật Bản và quốc tế. Ở vườn hoa Ueno cũng có Bảo tàng Khoa học Quốc gia và vườn thú công cộng. Các bảo tàng khác bao gồm: Bảo tàng Nghệ thuật Nezu tại Aoyama; Bảo tàng Edo-Tokyo tại Sumida dọc sông Sumida ở trung tâm Tokyo và thư viện nghị viện quốc gia, Cơ quan lưu trữ quốc gia và Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại Quốc gia, nằm gần hoàng cung.
Tokyo có rất nhiều nhà hát cho nghệ thuật biểu diễn. Trong đó có những nhà hát tư nhân và nhà nước dành cho các loại hình nghệ thuật truyền thống của Nhật Bản như kịch Noh và Kabuki cũng như cho các thể loại kịch hiện đại. Các dàn nhạc giao hưởng và những nhóm nhạc biểu diễn âm nhạc phương Tây và âm nhạc truyền thống. Tokyo có rất nhiều nơi biểu diễn dành cho thể loại nhạc pop và rock với đủ các kích cỡ từ những câu lạc bộ nhỏ cho tới những khu lớn như Nippon Budokan. Có rất nhiều lễ hội diễn ra khắp Tokyo. Những lễ hội lớn phải kể đến Sannō tại đền Hie, Sanja tại đền Asakura và lễ hội Kanda tổ chức hai năm một lần. Thường niên, vào cuối ngày thứ bảy của tháng bảy, tại sông Sumida sẽ có màn biểu diễn pháo hoa thu hút hơn một triệu người xem. Vào mùa hoa anh đào nở vào tháng tư, rất nhiều người tụ tập tại công viên Ueno, công viên Inokashira và vườn quốc gia Shinjuku Gyoen để tổ chức picnic dưới bóng cây anh đào.
Harajuku, một địa điểm thuộc khu Shibuya, được biết đến trên toàn thế giới với phong cách và thời trang của giới trẻ Nhật Bản.

Thành phố Gyeongju - Hàn Quốc

Gyeongju là một thành phố ven biển nằm ở góc đông nam của tỉnh Gyeongsang Bắc tại Hàn Quốc. Đây là thành phố lớn thứ nhì về diện tích sau Andong, với 1.324 km2  và dân số theo điều tra năm 2008 là 269.343 người. Gyeongju nằm cách 370 km  về phía đông nam của Seoul, và 55 km  về phía đông của tỉnh lị Daegu. Thành phố giáp với Cheongdo và Yeongcheon ở phía tây, Ulsan ở phía nam và Pohang ở phía bắc, còn phía đông giáp biển Nhật Bản. Một số ngọn núi thấp thuộc dãy Taebaek nằm rải rác quanh thành phố.
Thành phố Gyeongju - Hàn Quốc
Gyeongju là kinh đô của vương quốc cổ Tân La , vương quốc này từng kiểm soát hầu hết bán đảo Triều Tiên trong giai đoạn từ thế kỷ 7 đến 9. Một lượng lớn các điểm khảo cổ và di sản văn hóa từ thời kỳ này vẫn còn hiện diện tại thành phố. Gyeongju thường được đề cập đến với biệt danh "bảo tàng không có những bức tường". Trong số các di tích lịch sử đó, Seokguram , Bulguksa , khu di tích lịch sử Gyeongju và làng dân gian Yangdong được công nhận là Di sản thế giới bởi UNESCO. Việc có nhiều di tích lịch sử đã giúp Gyeongju trở thành một trong số các địa điểm du lịch quen thuộc nhất tại Hàn Quốc.
Thành phố Gyeongju hợp nhất và huyện Gyeongju lân cận vào năm 1995 và nay là một nơi phức hợp thành thị-nông thôn. Thành phố gồm 53 khu đô thị cỡ nhỏ và vừa khác nhau với dân số dưới 300.000 người. Cùng với các di sản lịch sử phong phú của mình, Gyeongju ngày nay bị ảnh hưởng bởi các xu hướng kinh tế, nhân khẩu và xã hội đã định hình nền văn hóa Hàn Quốc hiện đại. Du lịch vẫn duy trì là ngành kinh tế chính, những các ngành chế tạo cũng được phát triển do vị trí gần gũi của thành phố với các trung tâm công nghiệp chính như Ulsan và Pohang. Gyeongju được kết nối với mạng lưới đường bộ và đường sắt quốc gia, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển công nghiệp và du lịch Hàn Quốc.
Gyeongju nằm ở góc đông nam của tỉnh Gyeongsang Nắc, và tiếp giáp với thành phố trực thuộc trung ương Ulsan ở phía nam. Trong địa bàn tỉnh, thành phố giáp với Pohang ở phía bắc, Cheongdo ở tây nam, và Yeongcheon ở tây bắc. Gyeongju nằm cách 50 kilômét  về phía bắc của Busan. Phía đông thành phố là biển Nhật Bản.
Do nằm ở ven biển, Gyeongju có khí hậu ôn hòa và ẩm ướt hơn một chút so với các vùng nội địa của Hàn Quốc. Tuy nhiên, về tổng thể, thành phố vẫn mang nét khí hậu chung của đất nước. Thành phố có một mùa hè nóng và mùa đông mát, gió mùa kéo dài từ tháng 6 đến đầu tháng 8. Cũng như những nơi khác ở bờ biển phía đông bán đảo Triều Tiên, các cơ bão mùa thu thường không xuất hiện. Lượng mưa trung bình là 1.091 milimét , và nhiệt độ trung bình là 12,2 °C.
Khi vương quốc Tân La lên đến đỉnh của sự hưng thịnh, Gyeongju được ước tính có tới một triệu cư dân, gấp bốn lần dân số thành phố năm 2008. Trong những năm gần đây, Gyeongju chịu ảnh hướng về xu hướng nhân khẩu gống như phần còn lại của đất nước. Như cả nước, Gyeongju có tuổi dân cư trung bình tăng và số thành viên trong một gia đình giảm. Số thành viên trung bình của một hộ nay chỉ là 2,8 người. Bởi tỷ lệ này vẫn tiếp tục giám trong những năm gần đây nên thành phố có nhiều hộ gia đình vào năm 2008  hơn là vào năm 2003, trong khi tổng dân số giảm.
Thành phố Gyeongju - du lịch Hàn Quốc
Giống như hầu hết các thành phố nhỏ tại Hàn Quốc, Gyeongju gặp phải sự suy giảm dân cư đều đặn trong những năm gần đây. Từ 2002 đến 2008, dân cư thành phố giảm 16.557 người. Việc này chủ yếu là do những người lao động đã di cư để tìm kiếm việc làm tại các thành phố lớn của Hàn Quốc. Năm 2007, số người chuyển đi khỏi thành phố lớn hơn 1.975 người so với số người chuyển đến. Cũng trong thời gian này, số trẻ sinh ra lớn hơn số ca tử vong là 450 mỗi năm, một con số có ý nghĩa song không bù đắp nổi số người di cư.
Gyeongju có một số lượng nhỏ cư dân không phải người Hàn song đang phát triển. Năm 2007, có 4.671 người ngoại quốc sống tại Gyeongju. Con số này tương ứng với 1,73% tổng dân số, gấp đôi số liệu năm 2003. Sự tăng trưởng của nhóm này phần lớn là do những người nhập cư đến từ ccs nước châu Á khác, nhiều người trong số họ làm việc trong các ngành công nghiệp phụ tùng ô tô. Các quốc gia có số người nhập cư tăng lên gồm Philippines, Trung Quốc, Đài Loan, Indonesia, và Việt Nam. Số cư dân đến từ Nhật Bản, Hoa Kỳ và Canada đã suy giảm đáng kể trong thời kỳ 2003–2007.
Thành phố có một phương ngữ đặc trưng tương đồng với phần phía bắc của Ulsan. Phương ngữ này tương tự như phương ngữ Gyeongsang thông thường nhưng giữ lại các nét đặc trưng của mình. Một số nhà ngôn ngữ học đã coi những nét đặc biệt trong phương ngữ Gyeongju là vết tích của ngôn ngữ Tân La.
  • Diện tích : 1.324,39 km²
  • Dân số (2008) : 269.343 - Mật độ 212/km²

Quận Gangnam - Hàn Quốc

Một địa điểm vô cùng thu hút khách Du Lịch Hàn Quốc - Quận Gangnam là một trong 25 quận của thủ đô Seoul, Hàn Quốc. Quận này có diện tích 39,5 km2, dân số 527,641 người, nằm đông nam thành phố Seoul. Quận được chia ra các đơn vị hành chính gồm 22 phường.
Quận Gangnam - Hàn Quốc
Khu Apgujeong-dong, một khu dân cư, khu mua sắm, thời trang ở Gangnam. Khu này được sáng lập bởi Han Myeong-hoe, một viên quan cao cấp của triều đại Joseon. Nơi đây là địa điểm đặt trụ sở của các hãng giải trí hàng đầu Hàn Quốc như: S.M. Entertainment and JYP Entertainment. Café Pascucci cũng là bối cảnh trong phim Beautiful Days.
  • COEX Mall, một trung tâm mua sắm tọa lạc bên dưới của Gangnam. Với diện tích 85000 m vuông, đây là trung tâm mua sắm dưới lòng đất lớn nhất Hàn Quốc. Kế bên trung tâm mua sắm là Trung tâm triển lãm và Hội nghị COEX.
  • COEX Aquarium, là một trong những bể cá lớn nhất Hàn Quốc với hơn 40.000 sinh vật biển.
  • Đó là một trong những phần của Trung tâm thương mại thế giới Seoul (WTC Seoul), hay còn gọi là COEX.
  • Bảo tàng ẩm thực Kim chi, được thành lập từ năm 1986, đây là nơi lưu giữ và truyền đạt nét văn hóa tinh túy của nền ẩm thực Hàn Quốc qua món kim chi. Triển lãm trong bảo tàng tập trung vào lịch sử hình thành và tầm quan trọng của món ăn kim chi trong ẩm thực Hàn Quốc. Bảo tàng thu thập những số liệu thống kê liên quan đến kim chi, như quá trình chế biến kim chi… Khu mộ Seolleung và Jeongneung: Đây là khu mộ hoàng gia của triều đại Joseon, là nơi yên nghỉ của hai vị vua của triều đạ iJoseon và nữ hoàng Jeonghyeon.
Vào năm 2012, bản nhạc K-pop "Gangnam Style" được trình diễn bởi ca sĩ PSY nói về quận này, nhạc video cũng được quay ở đây. Gangnam càng nổi tiếng quốc tế khi bản nhạc này được giới trẻ trên thế giới ưa thích. Trong nhạc video, PSY được thấy nhảy trên đỉnh của ASEM Tower với Trade Tower ở đằng sau. 2 tòa nhà này là một phần của World Trade Center Seoul (WTC Seoul), được biết tới là COEX.
Quận Gangnam được phục vụ bởi Tàu điện ngầm Seoul tuyến 2, Tàu điện ngầm Seoul tuyến 3, Tàu điện ngầm Seoul tuyến 7, Tàu điện ngầm Seoul tuyến 9, Tuyến Bundang và Tuyến Shinbundang.

Sundae - thực phẩm Hàn Quốc

Một món ăn bạn không nên bỏ qua khi du lịch Hàn Quốc - Sundae là một món ăn Hàn Quốc được thực hiện thường bởi sôi hoặc hấp bò hoặc lợn của ruột được nhồi với các thành phần khác nhau. Nó là một loại xúc xích máu và cho rằng đã được ăn trong một thời gian dài. Các công thức liên quan đến sundae có thể được tìm thấy trong Joseon sách dạy nấu ăn được xuất bản trong thế kỷ 19 như " Gyuhap chongseo "và" Siuijeonseo ".
Sundae - thực phẩm Hàn Quốc
Sundae có thể được thực hiện với các món hải sản như ojing-eo sundae  và myeongtae sundae .
Các loại phổ biến nhất của sundae được làm bằng ruột lợn nhồi với mì giấy bóng kính , lúa mạch , và máu thịt lợn,  , mặc dù một số biến thể cũng chứa tía tô lá, hành lá , lên men đậu nành dán , gạo nếp , kimchi , và đậu tương mầm. Đó là một món ăn đường phố nổi tiếng ở Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc . Trong thực tế, có một khu phố gọi là Sundae Town trong Sillim-dong mà có nhiều nhà hàng chuyên sundae. 
Mỗi giống của sundae sau một trong hai khu vực có nguồn gốc với một công thức khác nhau hoặc các gói. Gaeseong soondae lãm các trường hợp trước đây, có nguồn gốc ở Kaesong khi soondae ojingeo lấy tên từ các thành phần mà kết thúc tốt đẹp sundae điền.
  • Abai sundae , đặc sản địa phương của Hamgyeong và tỉnh Pyeongan .
  • Gaeseong sundae , đặc sản địa phương của Kaesong.
  • Jeju sundae , đặc sản địa phương của đảo Jeju.
  • Byeongcheon sundae , đặc sản địa phương của tỉnh Chungcheong.
  • Amppong sundae , đặc sản địa phương của tỉnh Jeolla.
  • Baegam sundae , đặc sản địa phương của Thành phố Yongin , tỉnh Gyeonggi.
  • Sundae Ojingeo , được làm bằng tươi mực . Đó là một đặc sản địa phương của tỉnh Gangwon .
  • Mareun ojingeo sundae , được thực hiện với khô mực . Đó là một đặc sản địa phương của tỉnh Gangwon và Gyeonggi . Nó được ăn như một banchan  hoặc Anju .
  • Myeongtae sundae , được làm bằng cá minh thái Alaska . Đó là một đặc sản địa phương của tỉnh Gangwon và tỉnh Hamgyong .
  • Sundaeguk  - guk ., hoặc súp giống như món ăn làm với sundae  Đôi khi nó bao gồm phần béo của ruột , gan, phổi, những mảnh sụn, và thịt.
  • Sundaebokkeum  - bokkeum hoặc món xào thực hiện với sundae, các loại rau và gochujang
  • Baeksundae , được thực hiện bởi các thành phần tương tự và phương pháp với sundae bokkeum, ngoại trừ sự bao gồm của gochujang